NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2026) --- NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 140 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5/1886 - 01/5/2026)!

TẤM LÒNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ, MIỀN NÚI VÀ ĐỒNG BÀO CÓ TÔN GIÁO

Thứ hai - 01/06/2026 14:57
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  
TẤM LÒNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ, MIỀN NÚI VÀ ĐỒNG BÀO CÓ TÔN GIÁO

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm sâu sắc, sự quan tâm đặc biệt đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, miền núi và đồng bào có tôn giáo. Trong tư tưởng và hành động của Người, khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng; mọi dân tộc đều bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển; đồng bào các tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Hình 1. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu dân tộc thiểu số chụp hình

 lưu niệm năm 1963 (nguồn: https://baotanglichsu.vn/)

Trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku năm 1946, Người căn dặn: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xơ Đăng hay Ba Na và các dân tộc khác đều là anh em ruột thịt”. Ngay từ những năm đầu trở về nước hoạt động cách mạng tại Việt Bắc, Người đã sống, làm việc và gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc. Trong 34 chiến sĩ của “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” thành lập ngày 22/12/1944 có tới 29 người là đồng bào dân tộc thiểu số. Điều đó cho thấy, vai trò quan trọng của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp cách mạng và niềm tin đặc biệt của Bác đối với lực lượng này. Xuất phát từ thực tiễn điều kiện sinh sống, tập quán và đặc điểm vùng miền, Người luôn trăn trở làm sao để đồng bào các dân tộc đoàn kết, cùng phát triển. Bác từng khẳng định: “Chính sách dân tộc của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”. Trong thời gian ở chiến khu Việt Bắc, Người luôn gần gũi đồng bào, thăm hỏi, chia sẻ đời sống, học tiếng địa phương và xem đồng bào như người thân trong gia đình. Bác thường căn dặn đội ngũ cán bộ phải gần dân, hiểu dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân; đặc biệt quan tâm đến giáo dục, xóa đói giảm nghèo và nâng cao dân trí. Người nhiều lần động viên đồng bào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát triển kinh tế và xây dựng đời sống mới. Trong chuyến thăm đồng bào miền núi, Người căn dặn: “Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý”. Tư tưởng ấy đến nay vẫn được xem là định hướng quan trọng trong phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tôn trọng bản sắc văn hóa của các dân tộc. Người căn dặn: “Nước ta có nhiều dân tộc, mỗi dân tộc có tiếng nói riêng; cán bộ đi làm việc ở đâu phải học tiếng nói ở đó”. Đồng thời, Người nhấn mạnh việc xóa bỏ hủ tục phải được tiến hành từng bước, phù hợp với đặc điểm của từng dân tộc, tránh nóng vội và áp đặt. Trong Di chúc thiêng liêng để lại trước lúc đi xa, Bác tiếp tục căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân”.

Bên cạnh sự quan tâm đối với đồng bào các dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của đồng bào có tôn giáo. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người đề nghị tuyên bố: “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”. Điều đó không chỉ thể hiện tư tưởng nhất quán của Bác về quyền tự do tín ngưỡng mà còn thể hiện tấm lòng bao dung, sự quan tâm sâu sắc và mong muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó đồng bào có tôn giáo luôn là bộ phận gắn bó, không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Bác từng nhận xét: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân; tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả; chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng; chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách phù hợp với điều kiện nước ta”. Từ đó, Người khẳng định: “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội”. Điều đó cho thấy Bác luôn nhìn nhận những giá trị tốt đẹp của tôn giáo và các học thuyết trên tinh thần kế thừa, chọn lọc và hướng tới mục tiêu cao nhất là hạnh phúc của con người, của Nhân dân. Trong nhiều thư gửi tăng ni, Phật tử, Người thường sử dụng những cách diễn đạt gần gũi với tinh thần Phật giáo như “tinh tiến tu hành”, “phục vụ chúng sinh”, “phụng sự Tổ quốc”, thể hiện sự trân trọng đối với đạo Phật và mong muốn gắn đạo với đời, đồng hành cùng dân tộc. Người từng khẳng định: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, Tăng, Ni và Phật tử hãy tích cực thực hiện tinh thần Từ bi, Vô ngã, Vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong Độc lập, Tự do, Hạnh phúc”. Cách nhìn nhận đó thể hiện sự đánh giá sâu sắc của Bác về mối quan hệ gắn bó giữa Phật giáo với lịch sử dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đối với đồng bào Công giáo, Bác luôn dành sự quan tâm đặc biệt, ân cần thăm hỏi các vị chức sắc, linh mục, giáo dân; động viên đồng bào sống “kính Chúa yêu nước”, đoàn kết cùng toàn dân bảo vệ Tổ quốc. Người nhiều lần nhấn mạnh việc bảo vệ độc lập dân tộc cũng chính là bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của Nhân dân. Trong thư gửi đồng bào Công giáo, Bác khẳng định: “Nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Với Người, độc lập dân tộc luôn gắn liền với tự do tín ngưỡng và quyền sống trong hòa bình, hạnh phúc của Nhân dân. Đồng thời, Bác luôn vận động đồng bào Công giáo phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc, sống tốt đời, đẹp đạo, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hình 2. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các chức sắc Công giáo chụp hình lưu niệm tại Hội nghị Công giáo toàn quốc năm 1955

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, những năm qua, các cấp ủy đảng và chính quyền thành phố Đồng Nai luôn quan tâm thực hiện tốt chính sách dân tộc và tôn giáo. Về công tác dân tộc, nhiều chương trình, chính sách thiết thực được triển khai thực hiện nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số. Trên cơ sở kế thừa kết quả từ tỉnh Đồng Nai và Bình Phước trước sắp xếp, địa phương đã huy động nguồn lực lớn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, chăm sóc sức khỏe và phát triển giáo dục. Về công tác tôn giáo, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo qua từng thời kỳ được quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Qua từng giai đoạn, nhất là từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có hiệu lực, nay được Quốc hội thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo chỉnh sửa, bổ sung năm 2026 thì hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đi vào nền nếp. Các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tôn giáo được chuẩn hóa, công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt ổn định, đúng quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo trên địa bàn ngày càng phát huy vai trò tích cực trong các hoạt động an sinh xã hội, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa và tham gia các phong trào thi đua yêu nước. Đồng bào các dân tộc thiểu số, miền núi và đồng bào có tôn giáo tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, đồng hành cùng địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Những kết quả đạt được là minh chứng sinh động cho việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, về công tác dân tộc và tôn giáo vào thực tiễn, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, xây dựng thành phố Đồng Nai ngày càng phát triển văn minh, giàu đẹp và nghĩa tình.

136 năm đã trôi qua kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu ra đời (19/5/1890-19/5/2026), nhưng tình yêu thương, sự quan tâm sâu sắc và tư tưởng nhân văn của Người đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào có tôn giáo vẫn luôn tỏa sáng. Học tập và làm theo Bác không chỉ là kế thừa tư tưởng, mà còn là trách nhiệm tiếp tục chăm lo đời sống Nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, để mọi người dân đều được sống trong ấm no, hạnh phúc và phát triển./.

  1. ^

     Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 249.

  2. ^

     Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.605

  3. ^

     Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.135

  4. ^

     Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.128

  5. ^

     Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.612

  6. ^

     Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 8.

  7. ^

     Dẫn theo Hòa thượng Thích Đức Nghiệp, Hồ Chủ tịch, một biểu trưng nhân bản Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1995, tr.321

  8. ^

     Một số chính sách nổi bật như: Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn; Quyết định số 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo; Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn đặc biệt khó khăn; Chương trình 135: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017–2020; Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 07/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn; Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số; Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030, được phê duyệt tại Nghị quyết số 120/2020/QH14 của Quốc hội và Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 771/QĐ-TTg ngày 26/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với cán bộ, công chức, viên chức; Quyết định số 2214/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường hợp tác quốc tế hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

  9. ^

     Một số chính sách, pháp luật nổi bật như: Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo; Kết luận số 18-KL/TW ngày 10/01/2017 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; Luật tín ngưỡng, tôn giáo bổ sung, chỉnh sửa năm 2026; Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10/01/2018 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới; Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 29/4/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tôn giáo trong xây dựng và phát triển thành phố Đồng Nai.

Tác giả: Lại Thị Quốc Toàn

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây